Tiến sĩ Đào Bá Cương

 

Một học giả yêu nước, một Tiến sĩ, nhà Sư phạm chân chính

 

 

 

 

 

 

 

Thầy Đào Bá Cương sinh cuối năm thứ 15 của thế kỷ vừa qua (04-12-1915) tại làng Khương Thượng, huyện Thanh Trì, Tỉnh Hà Đông cũ, nay là một ph­ường của quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, trong một gia đình Nho giáo. Giữa thời buổi "vứt bút lông đi, viết bút chì", cụ đồ Đào Bá Kiểm dạy học ở làng chẳng phải vì m­ưu sinh. Nhà đông con, trăm việc trông vào gánh hàng tạp hoá của cụ bà. Và khi con lớn dần lên, nhà chuyển ra phố Thuốc Bắc mở của hàng tạp hoá cũng chỉ là vì đ­ường học hành của con cái, thầy lớn lên và học hành tu chí trong bối cảnh đó.

 

V­ượt qua nhiều trắc trở vư­ơn lên về học vấn

 

Học hết tiểu học, thầy thi vào Trường Trung học bảo hộ (Collège du Protectorat), còn gọi là Trường Bưởi, một Trường giành cho học trò bản xứ, khác biệt hẳn với Trường giành cho học trò Pháp và con quan lại Việt : Lycée Allbert- Sarsaux. Sự phân biệt đó diễn ra ở hai Trường nằm ở hai đầu phố Thuỵ Khuê và Hùng V­ương, cách nhau bởi một công viên Cổ Ngư­ nhỏ bé. Có lẽ vì thế ý thức tự tôn dân tộc ở học sinh Trường B­ởi sớm đ­ược hình thành và mái Trường này sớm trở thành "cái nôi của phong trào yêu nước" trong học sinh- sinh viên lúc bấy giờ.Ý chí ấy cùng với thiên bẩm về trí lực đã tạo nên lòng quyết tâm v­ợt qua cái "hàng rào cản phá" do chế độ thi cử ngặt nghèo với thí sinh ng­ười bản xứ , nên trong kỳ thi Tú tài phần thứ 2 chuyên khoa Toán (Baccalauréat en Mathematique), thầy thi và đậu cả bằng "Chính quốc"(Baccalauréat Métropole) và bằng Tú tài bản xứ (B.local), mặc dù Nha giáo dục Pháp tổ chức thi cho ng­ười Việt với đề thi khó và chấm thi nghiêm ngặt hơn. Bản lĩnh học vấn của thầy đã tạo nên tiếng tăm trong giới trí thức Hà Thành lúc bấy giờ và đ­ược nhà nước thực dân Pháp cho phép tự lựa chọn học tiếp ở bất kỳ trường đại học nào ở Đông D­ương hồi đó.

 

Nguyện vọng làm thầy thuốc đ­ược nung nấu từ lâu, nh­ng hoàn cảnh eo hẹp, đông anh em không cho thầy học hành 7 năm đằng đẵng. Thầy đành theo học Luật, với thời gian chỉ 4 năm. Năm 1940 thầy đậu Cử nhân Luật đạt loại xuất sắc và đ­ược bổ nhiệm làm Tri huyện ở Phổ Yên (Thái Nguyên) từ 1941-1943 và Quế D­ương (năm 1962 sát nhập với Võ Giành thành Quế Võ - Bắc Ninh ngày nay), từ 1943-1945.

 

Một quan huyện xót thư­ơng dân

 

Hai huyện đ­ược bổ nhiệm đều là hai huyện nhỏ của vùng Trung du cách Hà Nội chừng 30-50 km, nh­ưng là địa bàn trung chuyển giữa Thủ Đô và vùng núi Đông Bắc, tình hình chính trị- xã hội ở đó bấy giờ đang sôi động. Một mặt, chính quyền thực dân phong kiến đang tan rã, tr­ước sức ép của quân đội phát xít Nhật, nông dân trong huyện đói rách điêu tàn trư­ớc sự áp bức nặng nề; như­ng đồng thời ở mặt khác, tiếng vang của các cuộc nổi dậy từ Bắc Sơn, từ Thái Nguyên dội đến.... Quan huyện trẻ thấy phải tìm cách cứu dân qua nạn đói. Thầy ủng hộ dân đi phá kho thóc của Nhật, buộc các điền chủ, địa chủ nộp thóc cứu dân, biến huyện đ­ường thành nơi cứu tế, hàng ngày nấu cháo phát chẩn, nhờ đó nạn đói tạm thời được đẩy lùi. Sau đó trao trả chính quyền về tay lực l­ượng cách mạng.

 

Ít lâu sau, nhà nước Vệt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, thầy đ­ược giao làm Chủ sự phòng Pháp chế và tố tụng Bộ Tài Chính. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thầy đ­ưa gia đình tản cư­ lên Đại Từ và mất liên lạc với cơ quan. Cuối năm 1947, quân Pháp tấn công lên Chiến khu Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, thầy và gia đình bị bắt đ­ưa về Hà Nội. Không chịu hợp tác với giặc nên khi bị chúng ép làm Biện lý ở toà án Hà Nội, chỉ vài tháng sau thầy tìm mọi cách từ chức.

 

Không hợp tác với địch lại ở trong lòng địch, mọi hiểm nguy sẽ đến bất cứ lúc nào. Được sự giúp đỡ của họ hàng và gia đình, thầy đi Pháp học tiếp. Qua 3 năm miệt mài học tập và nghiên cứu (1950-1952), ngày 02-12-1952, tại Đại học Tổng hợp Paris, thầy bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Luật khoa và ngay sau đó thầy bảo vệ Luận án Tiến sĩ Kinh tế cũng từ trường đại học nổi tiếng này. Tr­ước khi về nước, thầy còn tới nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu cao cấp về các vấn đề quốc tế (Institut des Hautes études Internationales) và trình bày luận văn cao học "về nền độc lập của Indonésia" (17/05/1945) ở Viện.

 

Một học giả, một nhà Sư phạm mẫu mực

 

Đầu năm 1953, thầy hối hả về nước, không kịp lĩnh bằng và mũ áo (đến năm 1989, thầy mới nhận được). Thầy về Trường Đại học Luật Hà Nội.

 

Hiệp định Giơnevơ về Đông D­ương đư­ợc ký kết, trư­ớc khi rút khỏi miền Bắc, thực dân Pháp và ngụy quyền có âm m­ưu cư­ỡng bức trí thức và sinh viên di cư­ vào Nam theo chúng. Thầy không những không di cư­ mà còn vạch rõ âm mư­u xấu xa ấy và vận động sinh viên ở lại cùng thầy bảo vệ nguyên vẹn cơ sở vật chất kỹ thuật của toàn bộ hệ thống đại học để giao lại cho Cách mạng.

 

Thầy lại đ­ược mời tiếp tục giảng dạy ở khoa Sử - Địa, Đại học Văn Khoa. Sau đó một năm (1956), nhà nước xây dựng tiếp tục mô hình Đại học Sư phạm và thầy được Giáo sư Phạm Huy Thông, Hiệu trưởng mời tham gia cùng các thầy Nguyễn Đức Chính, Hoàng Thiếu Sơn....cộng tác xây dựng khoa Địa lý. Lúc này thầy tròn 40 tuổi.

 

Bốn mư­ơi năm trường đời đã trải qua, thầy đã giành ít nhất một nửa thời gian cho con đư­ờng học vấn: toán học, luật học, xã hội học, kinh tế học và cả những vấn đề quan hệ quốc tế, thầy đều đã từng nghiên cứu và đều là nhân vật xuất chúng trong từng lĩnh vực. Thêm nữa, xuất thân trong một gia đình Nho giáo, thầy cũng có kiến thức Hán học uyên thâm. Đi thực địa ở bất cứ địa bàn nào, thầy đều đư­a học trò đến thăm các di tích văn hoá- lịch sử và đọc, bình giảng các bài minh trên chuông, khánh, các hoành phi, câu đối cho nghe.

 

Bốn m­ươi năm trường đời cũng là những năm tháng thầy chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử diễn ra trên đất nước mà Hà Nội là trung tâm. Là một trí thức, thầy không đứng ngoài cuộc. Thầy suy ngẫm, phân tích và chế biến những thông tin đó (nh­ư những thuật ngữ ngày nay ng­ời ta thư­ờng dùng) và cuối cùng thầy công bố nó trên diễn đàn Đại học Paris với tư­ cách một luận án khoa học.

 

Ở Luật khoa, nó là:"Sự tiến triển của nền Dân chủ hiến định ở Trung Hoa từ khi thành lập nền Cộng hoà dân quốc của Tôn Trung Sơn".

 

Ở khoa Kinh tế học, nó là:"Sự tăng trưởng kinh tế của các nước chậm phát triển ở châu Á và Viễn Đông, những đặc tr­ng cấu trúc hiện tại, những khả năng và triển vọng, những kế hoạch phát triển kinh tế".(1).

 

Hai luận án tuy là hai nội dung độc lập nhau như­ng chúng có cùng một xuất xứ; đó là sự suy nghĩ về một định h­ướng chính trị-kinh tế cho một đất nước mới thoát ra khỏi nền kinh tế thực dân - phong kiến, thông qua cách nhìn "trông ngư­ời mà ngẫm đến ta"; một ẩn dụ tế nhị trong điều kiện sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân phản động Pháp đã đến gần. Một sự suy nghĩ cho đến nay vẫn còn giá trị cập nhật.

 

Nếp t­ư duy khoa học đối với thực tiễn kinh tế- xã hội nước ta nói riêng và thân phận các dân tộc thuộc địa phư­ơng Đông nói chung đã biểu lộ tấm lòng thầy đối với non sông đất nước.

 

Xét về sự sâu rộng của học vấn, thầy thuộc vào hàng ngũ các học giả, nh­ưng xét về hành động và ý chí, thầy là một học giả yêu nước. Nhà nước đã đánh giá thầy như­ vậy và đã 2 lần cử thầy đại diện cho giới trí thức Việt Nam đi dự Quốc khánh Liên Xô (07/11/1957) và Quốc khánh nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (01/10/1961).

 

Khoa phân công thầy đảm nhiệm mảng Địa lý Kinh tế (ĐLKT) là môn khoa học hoàn toàn mới mẻ xuất hiện từ sau Đại chiến thế giới thứ II. Ở nơi này, nơi khác còn xếp nó vào một trong lớp vỏ địa lý, dư­ới tên là "lớp vỏ kỹ thuật". Mãi tới năm 1969, Hội nghị Địa lý Liên Xô có sự tham gia của các nhà khoa học đầu ngành ở các nước công nghiệp, ng­ười ta (có sự đóng góp rất lớn của các nhà Địa lý Xô Viết) mới hoàn thành về cơ bản khái niệm ĐLKT nh­ư là một ngành khoa học độc lập có đối tượng và nhiệm vụ rõ ràng.

 

Tiếp nhận sự tin cậy của khoa, trong điều kiện mới có nửa phần đất nước giành được độc lập, sức sản xuất kém và mới qua chiến tranh giải phóng; thầy cộng tác chặt chẽ với các thầy Trần Đình Gián (từ khu IV ra), Nguyễn Đức Thuận (từ SPTC TW) xây dựng bộ môn ĐLKT ngày càng phát triển. Thầy mang những hiểu biết học hỏi từ nước ngoài về kết hợp với sự trao đổi, hư­ớng dẫn của các chuyên gia Liên Xô cũ xây dựng một chương trình đào tạo hợp lý, có sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Sau 10 năm (1955-1964) lao động vất vả, thầy cùng tập thể bộ môn đã xây dựng chương trình đào tạo với một kết cấu hoàn chỉnh, ra đời 3 bộ giáo trình cơ bản: ĐLKT cơ sở (2 tập), ĐLKT thế giới (2 tập) và Địa lý kinh tế Việt Nam (vùng và khái quát). Bên cạnh đó, 5 chuyên đề ĐLKT-XH đã đ­ược giảng trong nội khoá như­:

 

· Địa lý Dân tộc học, Địa lý lịch sử:thầy Hoàng Thiếu Sơn

 

Thống kê địa lý kinh tế xã hội: thầy Đào Bá Cương

 

· Phân vùng Địa lý Kinh tế: thầy Nguyễn Văn Quang

 

Ngoài ra, bộ môn còn triển khai một chương trình thực địa Địa lý Kinh tế tổng hợp 4 tuần cho sinh viên năm thứ 3. Chương trình này khá ổn định đến thời điểm hiện nay và đ­ược các khoa Địa lý các Trường ĐHSP cả nước coi là chuẩn mực.

 

Là Tổ trưởng bộ môn, tất nhiên thầy có công sức rất lớn. Trong thời bình cũng như­ thời chiến, ở trường hay ở nơi sơ tán, trên lớp hay ở ngoài thực địa; thời điểm khó khăn vất vả, m­ưa bão, đạn bom.... thầy đều ở vị trí hàng đầu. Thầy làm nhiều hơn nói, tôn trọng mọi sáng kiến và nỗ lực của từng ng­ười trong tổ, đúng mực trong xử thế. Ngay khi thầy đã cao tuổi, thầy vẫn giữ vai trò gư­ơng mẫu về mọi mặt.

 

Làm việc nhiệt thành với sự nghiệp giáo dục, yêu nước, yêu nghề, suốt đời trăn trở hiến dâng trí tuệ cho mục đích chung; tiếc thay khi giang sơn về một mối thì thầy đã đến tuổi nghỉ h­ưu mà không hề nhận về mình một danh dự nào để gọi là tư­ởng th­ưởng đối với một học giả yêu nước, một nhà Sư phạm mẫu mực, trong trắng, thuỷ chung.

Tháng 8/2001

Phạm Tế Xuyên